Thông báo nội bộ IKC
Đề nghị các thành viên IKC khi copy bài viết từ các website khác cần ghi rõ nguồn tư liệu ở cuối bài viết.
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

August 2017
SunMonTueWedThuFriSat
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Calendar Calendar

Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

LIÊN KẾT BẠN BÈ
New Page 1 Công báo tỉnh Quảng Trị
Like/Tweet/+1

Luật cờ vua FIDE

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

default Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by siegbert tarrasch on Sun Feb 13, 2011 1:41 pm

Luật Cờ Vua FIDE áp dụng cho mọi cuộc đấu trên bàn cờ. Văn bản bằng tiếng Anh là văn bản gốc của Luật Cờ Vua, được thông qua tại Hội nghị FIDE lần thứ 71 tại Itanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) vào tháng 11 năm 2000 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2001.

LUẬT CỜ VUA FIDE

MỞ ĐẦU

Luật cờ Vua không bao quát tất cả các tình huống có thể xảy ra trong quá trình ván cờ. Nếu có một tình huống xảy ra, nhưng không được điều nào trong Luật quy định rõ ràng, thì có thể nghiên cứu những tình huống tương tự được đề cập trong Luật để tìm ra một giải pháp thoả đáng. Luật Cờ Vua được xây dựng trên quan điểm cho rằng các trọng tài đều có đủ trình độ cần thiết, khả năng xét đoán lành mạnh và tinh thần khách quan tuyệt đối. Một luật lệ quá chi tiết sẽ tước mất quyền xét đoán của trọng tài, làm hạn chế sự sáng tạo của trọng tài trong khi tìm cách giải quyết vấn đề một cách hợp lý, công bằng và sát với thực tế. FIDE mong rằng tất cả các kỳ thủ và các Liên đoàn thừa nhận quan điểm này.

Mỗi Liên đoàn thành viên được áp dụng những điều luật chi tiết hơn với những điều kiện sau đây:
(a) Luật riêng của từng Liên đoàn không được có điều nào trái với Luật chính thức của FIDE.
(b) Luật riêng của Liên đoàn chỉ áp dụng trong phạm vi địa bàn thuộc quyền quản lý Liên đoàn.
(c) Luật riêng của Liên đoàn không có giá trị cho bất kỳ trận đấu nào của FIDE; giải vô địch thế giới, đấu để phong cấp hoặc đấu để giành một danh hiệu hoặc đấu để tính hệ số (Rating). :D :D :D
avatar
siegbert tarrasch

Tổng số bài gửi : 55
Join date : 28/01/2011
Age : 18
Đến từ : vietnam

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by utan on Sun Feb 13, 2011 8:17 pm

Trước hết em cần cho mọi ng bít khái niệm FIDE chứ^^
và luật thế nào thì nên post cụ thể
đọc thế này thì mọi ng k bít đc >"<

_________________
Kệ nó.Vui lên đê nào anh em
126
avatar
utan

Tổng số bài gửi : 975
Join date : 17/01/2011
Age : 26
Đến từ : Nam Định

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by siegbert tarrasch on Mon Feb 14, 2011 5:30 pm

dạ em biet rồi thanks
avatar
siegbert tarrasch

Tổng số bài gửi : 55
Join date : 28/01/2011
Age : 18
Đến từ : vietnam

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by thapdienmaiphuc on Tue Mar 22, 2011 3:38 am

LUẬT
CHƠI

Điều
1. BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH
CỦA MỘT VÁN CỜ

1.1.

Ván cờ được tiến hành giữa hai đấu thủ bằng cách luân phiên
nhau di
chuyển các quân cờ trên một chiếc bàn hình vuông
gọi là “bàn cờ”.
Đấu thủ cầm quân trắng mở đầu ván cờ.
Một đấu thủ được quyền “có lượt
đi”, khi đấu thủ kia đã
thực hiện xong nước đi của mình.
1.2.
Mục tiêu của mỗi đấu thủ là tấn công Vua của
đối phương
sao cho đối phương không có nước đi đúng luật nào có thể

tránh Vua khỏi bị bắt ở nước đi tiếp theo. Đấu thủ đạt được điều đó
được gọi là đã “chiếu hết” Vua đối phương và thắng ván cờ.
Đấu thủ
có Vua bị chiếu hết thua ván cờ.
1.3.
Nếu xuất hiện thế cờ mà không một đấu thủ nào
có thể
chiếu hết được thì ván cờ kết thúc hoà.


Điều

2. VỊ TRÍ BAN ĐẦU CỦA CÁC QUÂN TRÊN BÀN CỜ

2.1.

Bàn cờ gồm 64 ô vuông bằng nhau, xen kẽ các ô sáng màu
(các ô trắng)
và các ô sẫm màu (các ô đen).

Bàn cờ được đặt giữa đấu thủ sao cho ô góc bên phải của đấu thủ có
màu trắng.
2.2. Khi bắt đầu
ván cờ, một đấu thủ có 16 quân màu
sáng (các quân
trắng), đấu thủ kia có 16 quân màu sẫm (các quân đen):

Các
quân cờ đó
thường được ký hiệu bằng những biểu tượng như
sau:

Bên
trắng:

Một
Vua trắng
Một
Hoàng Hậu trắng (gọi tắt là Hậu)
Hai
Xe trắng,
Hai

Tượng trắng,
Hai
Mã trắng,
Tám Tốt trắng,
Bên

đen:

Một
Vua đen,
Một Hoàng

Hậu đen
Hai
Xe đen,
Hai

Tượng đen,
Hai
Mã đen,
Tám Tốt đen,
Vị trí ban đầu

của các quân trên bàn cờ như sau:





Tám dãy ô theo chiều dọc bàn cờ được gọi là “các
cột dọc”. Tám dãy
ô theo chiều ngang bàn cờ được gọi là
“các hàng ngang”. Đường nối
các ô cùng màu đính vào nhau
ở góc được gọi là “đường chéo”.

Điều

3: NƯỚC ĐI CỦA CÁC QUÂN

3.1.
Không được di chuyển một quân tới ô có quân cùng màu đang
đứng. Nếu
một quân đi tới một ô cờ đang có quân của đối
phương đứng thì quân
của đối phương bị bắt, được bỏ ra
khỏi bàn cờ và tính là một phần
của nước đi đó. Một quân
được cho là đang tấn công một quân của đối
phương n?u
quân đó có thể thực hiện bước bắt quân tại ô cờ nêu trên

theo các điều 3.2 đến 3.8.

3.2.
Quân Tượng có thể đi tới bất cứ ô cờ nào trên
cùng
đường chéo mà nó đang đứng.


3.3. Quân Xe có thể đi tới bất cứ ô cờ nào trên
cùng
cột dọc hoặc hàng ngang mà nó đang đứng.


3.4. Quân Hoàng Hậu (gọi tắt là Hậu) có thể
đi tới
bất cứ ô cờ nào trên cùng cột dọc, hàng ngang
hoặc đường chéo mà nó
đang đứng.


3.5. Khi thực hiện những nước đi này, Quân Tượng,

quân Xe hoặc quân Hậu không được nhảy qua đầu các quân
đang đứng giữa
đường.
3.6.
Quân Mã có thể đi từ ô nó đang đứng đến một
trong các ô
gần nhất nhưng không nằm trên cùng hàng ngang, cột dọc

hay đường chéo với ô nó đang đứng. Mã có thể nhẩy qua ô có quân đứng.

3.7.


(a).
Tốt
có thể tiến tới một ô cờ trống ngay phía
trước nó, trên cùng cột dọc
hoặc:
(b).
Ở nước đi đầu tiên của mình Tốt có thể đi như
điểm (a),
hoặc chọn cách tiến hai ô cờ trên cùng cột dọc với điều

kiện cả hai ô cờ đó đều trống, hoặc:
(c).
Tốt đi theo đường chéo tới một ô cờ ngay phía
trước nó
trên cột dọc bên cạnh đang bị một quân của đối phương chiếm

giữ và bắt quân này


(d). Khi Tốt đối phương từ vị trí ban đầu tiến
hai
ô vượt qua ô cờ đang bị Tốt bên có lượt đi kiểm
soát, thì Tốt bên
có lượt đi có thể bắt Tốt đối phương
vừa đi hai ô như khi Tốt đó thực
hiện nước đi một ô.
Nước bắt này chỉ có thể thực hiện ngay sau nước
tiến Tốt
hai ô và được gọi là “bắt Tốt qua đường”.


(e). Khi một Tốt tiến tới hàng ngang cuối cùng

phải được đổi thành Hậu, hoặc Xe, hoặc Tượng, hoặc Mã
cùng màu, ngay
trong nước đi này. Sự lựa chọn để đổi
quân của đấu thủ không phụ thuộc
vào các quân đã bị bắt
trước đó. Sự đổi Tốt thành một quân khác được
gọi là
“phong cấp” cho Tốt và quân mới có hiệu lực ngay.
(a).
Quân Vua có thể đi bằng hai cách khác nhau:
(i).
Quân Vua đi từ ô cờ nó đang đứng tới một ô bất
kỳ liền
bên nếu ô cờ đó không bị quân nào của đối phương tấn công.



Các quân của đối phương được coi là đang
tấn công một ô thậm chí cả
khi chúng không thể di
chuyển.
(ii). “Nhập thành” đây là một
nước đi của Vua và
một trong hai Xe cùng màu, trên cùng
hàng ngang, đều tính chung là
một nước đi của Vua và
được thực hiện như sau:
Vua di chuyển ngang hai ô từ vị
trí ban đầu sang phía Xe tham gia
nhập thành, tiếp theo
Xe nói trên di chuyển nhảy qua Vua tới ô cờ
quân Vua vừa
đi qua.

(1).
Không được phép
nhập thành:
[a]. Nếu Vua đã di chuyển rồi, hoặc

. Nếu Xe phía nhập thành đã di chuyển rồi.

(2). Tạm thời chưa được nhâïp thành:
{a}. Nếu
ô Vua đang đứng, ô Vua phải đi qua hoặc ô Vua định tới đang

bị một hay nhiều quân của đối phương tấn công.
.
Nếu giữa Vua và quân Xe định nhập thành có quân khác đang đứng.

[c]. Quân Vua được coi là “bị chiếu” nếu như nó bị một hay nhiều
quân
của đối phương tấn công, thậm chí cả khi những
quân này không thể
tự di chuyển.
[b]Việc
thông
báo nước chiếu Vua là không bắt buộc.
[b]3.9.
Các quân
không được phép di chuyển nếu nước
đi đó đặt Vua hoặc để
Vua của mình ở thế bị chiếu.

Điều 4:

THỰC HIỆN NƯỚC ĐI

4.1.
Các nước đi phải được thực hiện chỉ bằng một tay.

4.2. Đấu thủ có lượt đi có thể sửa một hay nhiều
quân cho đúng ô của chúng, với điều kiện phải thông báo
trước ý định
của mình (chẳng hạn bằng cách nói “tôi sửa
quân”)
4.3. Ngoài trường hợp được quy
định ở điều 4.2, nếu
đấu thủ có lượt đi cố ý chạm vào:
(a). Một hay nhiều quân của mình đấu thủ phải di chuyển quân
bị chạm
đầu tiên nếu quân đó có thể di chuyển được.
(b). Một hay nhiều quân của đối phương, đối thủ phải bắt
quân bị chạm
đầu tiên nếu quân đó có thể bắt được.

(c). Các quân khác màu, đấu thủ chạm quân phải bắt quân của
đối phương
bằng quân của mình, hoặc nếu điều đó không
đúng luật thì phải đi hoặc
bắt quân bị chạm đầu tiên nếu
quân đó có thể đi được hoặc bắt được.
Nếu không thể xác
định được quân nào bị chạm đầu tiên, thì quân của
đấu
thủ đó bị coi là chạm trước quân của đối phương.
4.4.
(a). Nếu một đấu thủ cố ý chạm vào Vua và Xe
của mình,
thì phải nhập thành về phía Xe đó nếu nước nhập thành hợp

lệ.
(b). Nếu một đấu thủ cố ý chạm vào Xe trước và sau
đó là Vua của mình,
đấu thủ đó không được phép nhập
thành tại nước đi này và tình huống
sẽ được giải quyết
theo điều 4.3a.
(c). Nếu một đấu thủ có ý định nhập thành
mà chạm vào Vua, hoặc chạm
Vua và Xe cùng một lúc nhưng
nhập thành về phía này không hợp lệ đấu
thủ phải thực
hiện một nước đi khác đúng luật bằng quân Vua của mình

bao gồm cả nước nhập thành về phía khác. Nếu Vua cũng không có nước
đi hợp lệ, thì đấu thủ được phép thực hiện một nước đi khác
hợp lệ.
4.5. Nếu không một quân nào
trong số các quân đã
chạm có thể di chuyển được, hoặc
bắt quân được, thì đấu thủ có thể
thực hiện một nước đi
bất kỳ khác hợp lệ.
4.6. Đấu thủ mất
quyền khiếu nại các vi phạm luật
này của đối phương nếu
đã cố tình chạm tay vào quân cờ.
4.7.
Khi một quân đã được buông tay đặt trên ô cờ
như một
nước đi hợp lệ hoặc một phần của nước đi hợp lệ thì sau đó

quân cờ này không thể được di chuyển tới một ô cờ khác. Nước đi được
coi là hoàn thành khi tất cả các yêu cầu liên quan tới Điều 3
được
thoả mãn.

Điều

5: HOÀN THÀNH VÁN CỜ

5.1.
(a). Đấu thủ chiếu hết Vua đối phương bằng một nước đi hợp
lệ – thắng
ván cờ. Ván cờ ngay lập tức kết thúc.

(b). Đấu thủ thắng ván cờ khi đối phương tuyên bố xin thua. Ván
cờ
kết thúc ngay lúc đó.
5.2.
(a). Ván cờ hoà khi đấu thủ có lượt đi không
có nước đi
hợp lệ nào và Vua của đấu thủ đó không bị chiếu. Ván cờ

được gọi là kết thúc ở thế “hết nước đi”. Ván cờ ngay lập tức kết

thúc với điều kiện nước dẫn tới thế “hết nước đi” (Pát) là
nước đi
hợp lệ.
(b). Ván cờ hoà khi xuất
hiện thế cờ, trong đó không đấu thủ nào có
thể chiếu hết
Vua của đối phương bằng các nước đi hợp lệ. Ván cờ được

gọi là kết thúc ở thế “không có khả năng đánh thắng”. Ván cờ ngay

lập tức kết thúc, với điều kiện nước dẫn tới thế cờ này là
nước đi
hợp lệ.
(c). Ván cờ hoà theo sự
thoả thuận của hai đấu thủ trong quá trình
ván đấu. Ván
cờ kết thúc ngay lúc đó. (Xem điều 9.1).
(d). Ván cờ có
thể hoà nếu một thế cờ giống hệt sẽ xuất hiện hoặc
đã
xuất hiện ba lần trên bàn cờ. (Xem điều 9.2).
(e). Ván cờ
có thể hoà nếu trong 50 nước đi cuối cùng liên tiếp nhau

các đấu thủ đã không thực hiện bất kỳ sự di chuyển Tốt nào và không
có nước bắt quân nào. (Xem điều 9.3).

LUẬT

THI ĐẤU

Điều 6: ĐỒNG HỒ
CỜ

6.1.

“Đồng hồ” là đồng hồ có hai chỉ số thời gian được nối với nhau để

tại một thời điểm chỉ có giờ của một bên chạy. Thuật ngữ “đồng
hồ”
dùng trong Luật Cờ Vua là một trong hai chỉ số thời
gian.
“Rụng cờ” là sự hết thời gian cho phép đối với một
đấu thủ.
6.2. (a). Khi sử dụng đồng hồ
cờ, mỗi đấu thủ phải
thực hiện một số lượng tối thiểu
hoặc tất cả các nước đi trong một
khoảng thời gian cho
phép; khi sử dụng đồng hồ điện tử, ngoài thời
gian kiểm
tra chung có thể bổ sung một số lượng thời gian nhất định

cho mỗi nước đi. Tất cả các điều trên cần phải được xác định trước.
(b). Thời gian còn lại chưa dùng hết của một đấu thủ ở một
giai đoạn
được cộng thêm vào thời gian của đấu thủ đó ở
giai đoạn tiếp theo,
trừ trường hợp qui định thời gian
này cho từng nước đi. Khi cả hai
đấu thủ đều được nhận
một lượng thời gian chính quy định cho suy nghĩ
và một
lượng thời gian ấn định thêm cho mỗi nước đi thì thời gian

chính bắt đầu tính sau khi thời gian ấn định đã hết. Nếu đấu thủ bấm
dừng đồng hồ của mình trước khi hết thời gian ấn định thì
thời gian
suy nghĩ chính sẽ vẫn được tính, không phụ
thuộc vào tỷ lệ thời gian
ấn định đã sử dụng.

6.3. Mỗi chỉ số thời gian có một “lá cờ”. Ngay lập

tức sau khi rụng cờ, các yêu cầu ở điều 6.2(a) phải
được kiểm tra.
6.4. Trước khi bắt đầu
ván đấu, trọng tài sẽ quyết
định đồng hồ cờ được đặt ở
vị trí nào.
6.5. Khi bắt đầu ván cờ,
đồng hồ của đấu thủ cầm
quân trắng được cho chạy trước.
6.6. Nếu cả hai đấu thủ cùng vắng mặt từ
đầu ván
đấu, đấu thủ cầm quân trắng sẽ bị mất toàn bộ
thời gian cho đến khi
đấu thủ này có mặt (trừ khi điều
lệ giải hoặc trọng tài có quy định
khác).

6.7. Đấu thủ sẽ bị thua ván cờ nếu đến thi đấu muộn
hơn m?t gi? đồng hồ sau khi bắt đầu cuộc đấu theo lịch (trừ
khi điều
lệ giải hoặc trọng tài có quy định khác).

6.8. (a). Trong quá trình ván đấu, mỗi đấu
thủ khi
đã thực hiện xong nước đi của mình trên bàn cờ
cần phải bấm dừng đồng
hồ của mình và cho đồng hồ của
đối phương chạy. Đấu thủ phải luôn
nhớ bấm đồng hồ. Nước
đi của đấu thủ chưa được coi là hoàn thành khi
chưa
thực hiện việc bấm đồng hồ, trừ khi nước đi được thực hiện kết

thúc ván cờ. (Xem các điều 5.1 và 5.2).


Thời
gian giữa
khi thực hiện nước đi trên bàn cờ đến lúc bấm
đồng hồ được xem như
là một phần của thời gian cho phép
đối với đấu thủ.
(b). Đấu thủ phải bấm đồng hồ bằng
chính tay di chuyển quân. Nghiêm
cấm để sẵn ngón tay ở
nút bấm hoặc “trực sẵn” phía trên nút bấm.
(c). Các đấu
thủ phải sử dụng đồng hồ một cách nghiêm túc. Nghiêm
cấm
đập mạnh đồng hồ hoặc gõ nó từ phía trên. Việc điều khiển đồng

hồ sai quy định sẽ bị phạt theo điều 13.4.
(d).
Nếu một đấu thủ không thể sử dụng đồng hồ, một trọng tài có thể

được cử giúp đấu thủ làm việc này. Trọng tài sẽ điều khiển đồng
hồ
một cách vô tư.
6.9.
Lá cờ được công nhận là đã rụng khi trọng tài
ghi nhận
thực trạng đó hoặc một trong hai đấu thủ tuyên bố điều đó

và gọi trọng tài xác nhận.
6.10. Đấu
thủ sẽ bị thua ván cờ nếu không thực hiện
đủ số lượng
cước đi được quy định trước trong thời gian cho phép,

trừ khi áp dụng các điều 5.1 hoặc một trong các điều 5.2(a), (b),

(c). Mặc dù vậy, ván cờ sẽ hoà nếu xẩy ra thế cờ mà đối phương
không
thể chiếu hết bằng hàng loạt bất kỳ các nước đi
nào hợp lệ.
6.11. Các chỉ số trên đồng
hồ được coi là quyết định
trong trường hợp đồng hồ không
có hư hỏng rõ ràng nào. Đồng hồ hư
hỏng cần phải được
thay thế. Khi xác định thời gian đặt trên đồng
hồ mới
thay thế, trọng tài cần phải có quyết định hợp lý nhất.
6.12.
Nếu cả hai lá cờ cùng đã tụng và không thể
xác định
được lá cờ nào rụng trước, ván đấu sẽ tiếp tục.
6.13.
(a). Nếu như ván đấu cần phải tạm dừng, trọng
tài phải
dừng cả hai đồng hồ.
(b). Đấu thủ có thể dừng đồng hồ
trong trường hợp đề nghị trọng tài
can thiệp, chẳng hạn
trong trường thiếu quân yêu cầu trong nước đi
phong cấp.
(c). Trọng tài là người quyết định, khi nào thì ván đấu được
tiếp
tục lại.
(d). Nếu một đấu thủ dừng
đồng hồ để đề nghị trọng tài can thiệp,
trọng tài sẽ xác
định xem đấu thủ có lý do chính đáng để làm việc
đó hay
không. Nếu rõ ràng rằng đấu thủ không có lý do chính đáng khi

dừng đồng hồ, đấu thủ sẽ bị phạt theo điều 13.4.
6.14.
Nếu như xảy ra một sự vi phạm luật nào đó và
cần phải
khôi phục lại đúng thế cờ trước khi vi phạm, trọng tài cần

phải quyết định hợp lý khi xác định thời gian cần phải thiết lập trên

đồng hồ. Nếu cần thiết trọng tài sẽ chỉnh lại thời gian
đã sử dụng
trên đồng hồ.
6.15.
Các màn ảnh, màn hình vi tính hoặc các bàn
cờ minh hoạ
thế cờ hiện hành trên bàn cờ, các nước đi và số lượng

các nước đi đã được thực hiện cũng như các đồng hồ đặt cho khán giả
xem. Đấu thủ không được dựa vào những thiết bị này để khiếu
nại.

Điều 7:
CÁC THẾ CỜ KHÔNG HỢP LỆ

7.1.

(a). Nếu trong quá trình ván đấu phát hiện rằng vị trí
ban đầu của
các quân cờ đặt sai từ đầu ván thì ván cờ
phải được huỷ bỏ và chơi
ván mới.
(b).
Nếu trong quá trình ván đấu phát hiện rằng bàn cờ đã được đặt

trái với điều 2.1, ván đấu tiếp tục nhưng thế cờ đã đạt tới phải
được
chuyển sang một bàn cờ được đặt đúng.

7.2. Nếu một ván đấu đã được bắt đầu với màu quân
bị đảo nhược, ván đấu sẽ tiếp tục, trừ khi trọng tài có
quyết định
khác.
7.3.
Nếu một đấu thủ làm xê dịch vị trí một hay nhiều
quân,
thì phải thực hiện việc sửa lại thế cờ cho đúng bằng thời gian

của mình. Nếu cần thiết hoặc đấu thủ đã làm sai lệch quân hoặc
đối
phương của anh ta sẽ dừng đồng hồ và gọi trọng tài
can thiệp. Trong
tài có thể phạt đấu thủ đã làm sao lệch
quân.
7.4. (a). Nếu trong quá trình ván
đấu phát hiện ra
một nước đi không hợp lệ đã được thực
hiện, thế cờ phải được khôi
phục lại như thế trước khi
xảy ra vi phạm. Nếu như thế cờ ngay trước
khi vi phạm
luật không thể khôi phục được, ván cờ sẽ tiếp tục từ thế

cờ sau cùng có thể khôi phục lại. Đồng h? cờ phải được chỉnh lại theo
điều 4.3 áp dụng cho nước đi thay thế nước đi không hợp lệ.
Sau đó
ván cờ lại tiếp tục.
(b). Sau khi
xử lý theo điều 7.4(a). đối với hai nước đi không hợp
lệ
đầu tiên của đấu thủ, trọng tài sẽ cho đối phương của đấu thủ đó

thêm hai phút trong mỗi trường hợp, đối với nướic đi không hợp
lệ
lấm thứ ba của đấu thủ, trọng tài sẽ tuyên bố đấu
thủ đó thua ván
cờ.
7.5.
Nếu trong quá trình ván đấu phát hiện ra các
quân đã
được đặt không đúng ô của mình, thế cờ phải được khôi phục

lại như trước khi xảy ra vi phạm, Nếu như thế cờ ngay trước khi vi
phạm không thể xác định được, ván cờ sẽ tiếp tục từ thế cờ
sau cùng
có thể xác định được. Đồng hồ cờ phải được
chỉnh lại theo điều 6.14.
Sau đó ván cờ lại tiếp tục.

Điều
8:
GHI CHÉP CÁC NƯỚC ĐI


8.1.

Trong quá trình ván đấu, mỗi đấu thủ phải
ghi chép từng nước đi của
mình và của đối phương một
cách chính xác và rõ ràng bằng cách ghi
theo hệ thống ký
hiệu đại số (phụ lục E) trên biên bản dùng cho thi
đấu.
Đấu thủ có thể đi nước đáp lại nước đi của đối phương trước khi

ghi chép nó. Nhưng đấu thủ phải ghi cháp nước đi của mình trước
khi
thực hiện nước đi sau. Cả hai đấu thủ phải ghi nhận
đề nghị hoà trong
biên bản thi đấu (Phụ lục E12).

Nếu một đấu thủ không thể tự ghi chép biên bản thì vào đầu ván
đấu,
một phần thời gian suy nghĩ của đấu thủ sẽ bị trừ
theo quyết định
của trọng tài. Nếu một đấu thủ không thể
sử dụng đồng hồ, một trọng
tài có thể được cử giúp đấu
thủ làm công việc này. Đồng hồ sẽ được
trọng tài điều
chỉnh một cách công bằng.
8.2. Biên bản
thi đấu phải để trọng tài quan sát
trong suốt quá trình
ván đấu.
8.3. Biên bản thi đấu là tài
sản riêng của Ban tổ
chức giải.
8.4.
Nếu một đấu thủ còn ít hơn năm phút trên đồng
hồ của
mình và không có thời gian bổ sung (30 giây hoặc hơn) cho mỗi

nước đi thì đấu thủ đó không bắt buộc phải tuân thủ điều 8.1.
Nhưng
ngay sau khi một lá cờ đã rụng đấu thủ phải khôi
phục lại đầy đủ việc
ghi chép của mình trước khi thực
hiện nước đi tiếp theo.
8.5. (a). Nếu cả
hai đấu thủ đều không phải ghi nước
đi theo điều 8.4
thì trọng tài hoặc một trợ lý của trọng tài cần phải
cố
gắng có mặt để tiến hành ghi chép. Trong trường hợp này, ngay lập

tức sau khi lá cờ rụng, trọng tài phải dừng cả hai đồng hồ.
Sau đó,
cả hai đấu thủ phải sử dụng ghi chép của trọng
tài hoặc biên bản của
đối phương để hoàn thành biên bản
của mình.
(b). Nếu chỉ có một đấu thủ không phải ghi biên
bản theo điều 8.4,
thì đấu thủ này phải hoàn thành biên
bản của mình một cách sớm nhất
ngay sau khi một trong
hai lá cờ rụng trước khi di chuyển quân trên
bàn cờ. Nếu
là lược đi của mình thì đấu thủ này có thể sử dụng biên

bản của đối phương. Nhưng phải trả lại cho đối phương trước khi thực
hiện nước đi.
(c). Nếu như không thể hoàn
thành việc ghi chép biên bản một cách
đầy đủ, các đấu
thủ phải khôi phục lại ván cờ trên một bàn cờ thứ
hai
dưới sự giám sát của trọng tài hoặc trợ lý trọng tài. Trước tiên,

đấu thủ phải ghi lại thế cờ hiện tại, thời gian đã sử dụng và
số lượng
các nước đi đã thực hiện (nếu điều này có thể)
trướckhi thực hiện
việc khôi phục lại ván cờ.

8.6. Nếu như không thể khôi phục được biên bản tới

thế cờ xuất hiện và bởi vậy không thể khẳng định được
rằng đấu thủ
đã vượt quá thời gian cho phép hay không
thì ván đấu được tiếp tục
và nước đi thứ nhất của đợt
kiểm tra thời gian tiếp theo, trừ khi
xác định rõ ràng
rằng nhiều nước đi hơn đã được thực hiện.


Điều 9:

VÁN CỜ HOÀ

9.1.
(a). Một đấu thủ muốn đề nghị hoà thì phải đề nghị sau khi
thực hiện
nước đi trên bàn cờ nhưng trước khi bấm đồng
hồ. Một đề nghị hoà tại
bất cứ thời điểm nào khác của
cuộc đấu vẫn có giá trị nhưng phạm vào
điều 12.5. Không
được ràng buộc đề nghị hoà với các điều kiện khác.
Trong
cả hai trường hợp đề nghị hoà không được phép rút lại và nó

có giá trị cho đến khi đối phương chấp nhận, hoặc từ chối bằng lời,

hoặc bằng cách chạm vào quân với dự định thực hiện nước
đi hoặc đi
quân hoặc ván đấu kết thúc bằng một cách
khác.
(b). Đề nghị hoà phải được cả hai đấu thủ ghi nhận
trong biên bản
của mình bằng dấu “=” (Xem phụ lục E).
(c). Yêu cầu hoà theo các điều9.2 – 9.3 hoặc 10.2 được xem
như một
đề nghị hoà.
9.2.
Ván cờ được xử hoà theo đề nghị của đấu thủ
có lượt đi
nếu như xuất hiện một thế cờ lặp lại ba lần (không nhất

thiết phải có sự lặp lại liên tiếp):
(a). Thế cờ sắp xuất
hiện 3 lần. Ðầu tiên đấu thủ ghi nước đi dẫn
đến thế
lặp lại 3 lần của mình vào biên bản và thông báo cho trọng

tài biết ý định thực hiện nước đi đó của mình hoặc,

(b). Thế cờ đã xuất hiện 3 lần và đấu thủ đề nghị hoà có lượt đi.

Các thế cờ ở mục (a) và (b) được coi là lặp lại nếu chính đấu
thủ
đề nghị hoà có lượt đi, các quân cùng tên, cùng màu ở
đúng vị trí
cũ và khả năng di chuyển của tất cả các
quân của hai đấu thủ không
thay đổi.
9.3.
Ván cờ hoà căn cứ vào đề nghị của đấu thủ có
lượt đi,
nếu (a) đấu thủ ghi các nước đi vào biên bản của mình và

thông báo cho trọng tài biết dự định sẽ thực hiện nước đi dẫn đến

kết quả là trong 50 nước đi cuối cùng do hai đấu thủ thực
hiện không
có sự di chuyển của bất cứ Tốt nào và không
có sự bắt bất cứ quân
nào, hoặc,
(b).
Trong 50 nước đi cuối cùng liên tiếp nhau đã được hai đấu thủ

thực hiện không xẩy ra sự di chuyển của bất cứ Tốt nào và không có

sự bắt bất cứ quân nào.
9.4.
Nếu đấu thủ thực hiện nước đi mà không đề nghị
hoà thì
sẽ mất quyền đề nghị hoà theo điều 9.2 hoặc 9.3 ở nước đi

đó.
9.5. Nếu một đấu thủ đêf nghị hoà
theo điều 9.2 hoặc
9.3 thì phải ngay lập tức dừng cả hai
đồng hồ. Ðấu thủ không được
phép rút lại đề nghị của
mình.
(a). Nếu như đề nghị không đúng, trọng tài sẽ thêm
ba phút vào thời
gian còn lại của đối phương. Nếu đấu
thủ đề nghị hoà còn hơn hai phút
trên đồng hồ của mình,
trọng tài sẽ trừ một nửa số thời gian còn lại
của người
đề nghị tối đa là trừ ba phút. Nếu người đề nghị hoà còn

hơn một phút nhưng ít hơn hai phút, thời gian còn lại của anh ta sẽ
là một phút. Nếu người đề nghị còn ít hơn một phút, trọng
tài sẽ không
hiệu chỉnh đồng hồ của anh ta.

Sau đó ván cờ tiếp tục và nước đi đã đề xuất phải được thực hiện.
9.6. Ván cờ hoà khi thế cờ đạt tới không
thể chiếu
hết bằng hàng loạt nước đi hợp lệ có thể kể cả
những nước đi yếu nhất
của đối phương. Ván cờ ngay lập
tức kết thúc.

Ðiều 10:
ÐẤU
NHANH Ở CUỐI VÁN

10.1.
"Ðấu nhanh ở cuối ván" là giai đoạn cuối cùng của một ván
cờ, khi mà tất cả các nước đi còn lại phải được thực hiện
trong một
khoảng thời gian có hạn.
10.2.
Nếu như một đấu thủ có lượt đi còn ít hơn hai
phút trên
đồng hồ của mình, thì có thể đề nghị hoà trước khi lá cờ

rụng. Ðấu thủ đó phải dừng đồng hồ và mời trọng tài tới:

(a). Nếu như trọng tài công nhận rằng, đối phương không cố gắng đánh
thắng bắng các cách thông thường (mà chỉ đánh câu giờ),
hoặc, không
thể thắng ván cờ bằng các cách thông thường
thì trọng tài tuyên bố
ván cờ hoà.
Trong
trường hợp ngược lại, trọng tài sẽ tạm hoãn chưa đưa ra kết

luận của mình hoặc bác bỏ đề nghị hoà.
(b). Nếu trọng
tài tạm hoãn chưa đưa ra kết luận của mình, đối phương

có thể được cộng thêm hai phút vào thời gian suy nghĩ và ván cờ sẽ

tiếp diễn trước sự chứng kiến của trọng tài. Trọng tài tuyên
bố kết
quả cuối cùng sau khi lá cờ rụng.

(c). Nếu trọng tài bác bỏ đề nghị hoà, đối phương sẽ được thưởng thêm
hai phút vào thời gian suy nghĩ.
(d). Trọng
tài sẽ đưa ra kết luận dựa trên các điều 10a, b, c.
10.3.
Nếu cả hai lá cờ cùng đã rụng và không thể
xác định
được lá cờ nào rụng trước, ván cờ hoà.


Ðiều 11:TÍNH

ÐIỂM

Trừ cách tính

điểm khác đã được thông báo trước, đấu thủ thắng ván cờ hoặc thắng
do đối phương bị kỷ luật được một điểm (1), đất thủ thua ván
cờ hoặc
thua do bị kỷ luật được không điểm (0) và đấu
thủ hoà ván cờ được
nửa điểm (1/2).

Ðiều
12:
TƯ CÁCH ÐẤU THỦ



12.1.

Các đấu thủ không được có hành vi làm
ảnh hưởng xấu tới ván đấu.
12.2. Trong
thi đấu cấm các đấu thủ sử dụng các tài
liệu viết tay,
các nguồn thông tin, lời khuyên hoặc phân tích trên
một
bàn cờ khác. Tờ biên bản thi đấu chỉ được sử dụng để ghi chép

các nước đi, thời gian trên đồng hồ, đề nghị hoà và các vấn đề
liên
quan tới khiếu nại.
12.3.
Các đấu thủ đã chơi xong ván cờ của mình sẽ
được xem
như là khán giả.
12.4. Các đấu thủ không
được phép rời khỏi khu vực
thi đấu khi chưa được sự
đồng ý của trọng tài. Khu vực thi đấu bao
gồm: phòng thi
đấu, các phòng giải lao, khu vực tiếp năng lượng, khu

vực dàng cho hút thuốc và các khu vực khác được trọng tài công nhận.
Riêng đấu thủ có lượt đi không được phép rời khỏi phòng thi
đấu khi
chưa được sự đồng ý của trọng tài.

12.5. Nghiêm cấm các biểu hiện gây mất tập trung,
hoặc mất bình tĩnh cho đối phương dưới bất cứ hình thức nào,
kể cả
việc đề nghị hoà không có lý do chính đáng.

12.6. Sự vi phạm các điểm trong các điều từ
12.1
đến 12.5 đều có thể dẫn tới bị phạt theo điều 13.4.
12.7. Ðấu thủ không tuân thủ Luật Cờ Vua sẽ
bị xử
thua ván cờ. Trọng tài sẽ quyết định điểm của đối
phương.
12.8. Nếu cả hai đấu thủ đều
phạm vào Ðiều 12.7,
cả hai đấu thủ đều bị xử thua.

Ðiều 13: CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA TRỌNG TÀI (XEM PHẦN MỞ ÐẦU)
13.1. Trọng tài cần phải theo dõi việc tuân
thủ chặt
chẽ Luật Vờ Vua.
13.2.
Trọng tài phải hành động để cuộc thi đấu tiến
hành
thuận lợi nhất. Trọng tài phải bảo đảm duy trì điều kiện thi

đấu tốt để các vận động viên không mất tập trung. Trọng tài phải
giám
sát tiến trình của cuộc đấu.
13.3.
Trọng tài phải quan sát các ván đấu, đặc biệt
khi các
đấu thủ còn ít thời gian, và đưa ra các quyết định hoặc ấn

định các mức phạt cho các đấu thủ khi cần.
13.4.
Trọng tài có thể áp dụng một hoặc nhiều hình
phạt trong
các hình phạt sau:
(a). Nhắc nhở
(b).
Tăng thêm thời gian còn lại cho đối phương hoặc
(c). Trừ
bớt thời gian còn lại của đấu thủ vi phạm luật.
(d).
Tuyên bố ván cờ bị thua
(e). Trừ điểm ghi được trong ván
đấu của bên vi phạm
(f) . Tăng điểm ghi được trong ván
đấu tới mức tối đa cho đối phương
của đấu thủ vi phạm
(g). Truất quyền thi đấu.
13.5.
Trọng tài có quyền tăng thêm thời gian suy
nghĩ cho một
hoặc cả hai đấu thủ trong trường hợp có sự vi phạm làm

ảnh hưởng tới ván đấu từ bên ngoài.
13.6.
Trọng tài không được can thiệp vào ván đấu
trừ các
trường hợp Luật cờ cho phép. Trọng tài không được thông báo

số lượng nước đi đã được thực hiện, trừ trường hợp áp dụng điều 8.5,

khi ít nhất có một đấu thủ đã sử dụng hết thời gian của
mình. Trọng
tài phải kìm chế không được thông báo cho
đấu thủ biết rằng đối phương
đã hoàn thành nước đi.

13.7. Các khán giả và đấu thủ không được bàn
luận
hoặc can thiệp vào ván đấu. Nếu cần, trọng tài có
thể buộc những người
vi phạm rời khỏi phòng thi đấu.

Ðiều
14:
FIDE

Các Liên đoàn

thành viên có thể đề nghị FIDE đưa ra lời giải thích chính thức về
các vấn đề liên quan tới Luật Cờ Vua.




Được sửa bởi thapdienmaiphuc ngày Tue Mar 22, 2011 9:35 pm; sửa lần 2.
avatar
thapdienmaiphuc

Tổng số bài gửi : 32
Join date : 20/03/2011
Age : 24
Đến từ : Thanh Hóa

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by truongdinh.neu on Tue Mar 22, 2011 3:46 am

cậu này post cái j dzạ, mờ qá đọc k nổi
mh` cận 2,5 diop @@
avatar
truongdinh.neu

Tổng số bài gửi : 608
Join date : 11/02/2011
Age : 25
Đến từ : Thanh Hóa

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by Phantom on Tue Mar 22, 2011 11:54 am

hay lắm

_________________
Quay đầu lại là bờ,ai ngờ là Thái Bình Dương
avatar
Phantom

Tổng số bài gửi : 215
Join date : 16/01/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by nxt171 on Sat May 07, 2011 11:10 am

Anh em đọc luật để đi thi đấu cho tự tin. Có tranh chấp gì thì ta lôi luật ra.:D

nxt171

Tổng số bài gửi : 46
Join date : 11/04/2011

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by truongdinh.neu on Sat May 07, 2011 4:58 pm

ọc
bọn em thuộc lâu roài
@@
avatar
truongdinh.neu

Tổng số bài gửi : 608
Join date : 11/02/2011
Age : 25
Đến từ : Thanh Hóa

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by batchap on Tue May 17, 2011 8:28 am

nên có một topic nói về thể thức thi đấu Thụy Sĩ, các nguyên tắc khi đánh cờ.

_________________
avatar
batchap

Tổng số bài gửi : 76
Join date : 17/01/2011
Age : 28
Đến từ : Hà Nội

Xem lý lịch thành viên http://buivanhuy.oni.cc

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by utan on Tue May 17, 2011 10:44 pm

các nguyên tắc khi đánh cờ thì có rồi
còn hệ thụy sĩ để em tìm em post lên đây cho xem

_________________
Kệ nó.Vui lên đê nào anh em
126
avatar
utan

Tổng số bài gửi : 975
Join date : 17/01/2011
Age : 26
Đến từ : Nam Định

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by huuthanhkd on Sat Jun 09, 2012 5:07 pm

anh em, nao co nick Zingplay hm nao giao luu nhe nick :vuacovp123
avatar
huuthanhkd

Tổng số bài gửi : 17
Join date : 09/06/2012
Age : 27
Đến từ : Vinh phuc

Xem lý lịch thành viên http://0918.808.323

Về Đầu Trang Go down

default Re: Luật cờ vua FIDE

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết